국내 체류외국인 140만명으로 다문화사회 진입 가속화

March 18, 2012 Leave a comment

국내 체류외국인 140만명으로 다문화사회 진입

법무부는 2011년도 출입국·외국인정책 분야 통계 분석 결과, 2011년 한해 출입국자가 사상 처음으로 4천 5백만명을 넘어서 45,422,910명(국민: 26,064,463명, 외국인: 19,358,447명)을 기록하였고, 국내 체류외국인도 140만명으로 사상 최고치를 경신하였다고 발표하였다.

출입국자의 경우 국민 출국은 1.7% 증가에 그친 반면, 관광·방문 목적의 외국인 입국이 11.4% 대폭 증가하여 외국인 입국자 연간 1천만명 시대를 맞이하게 된 것입니다. 이는 한류열풍과 함께 비자 발급절차 간소화 등 제도개선 노력 등에 힘입어 일본, 중국, 동남아 등 2,30대 외국인들의 방문이 대폭 증가한데 따른 것이다.

국내 체류외국인 또한 사상 처음으로 140만명에 달하였고, 이 중 등록(장기체류) 외국인이 110만명을 넘어서 우리 인구의 2.2%를 차지하는 등, 우리나라가 다문화 사회로 빠르게 변모해가는 과정에 접어든 것으로 나타났다.

특히, 1992년 한·중 수교 이래 중국인 입국자가 45.3배, 국내 체류자가 19.2배로 각각 급증하여, 조만간 중국이 일본을 제치고 최다 인적교류 국가로 자리매김할 것으로 예상된다.

# 2011년 국내 체류외국인 현황은 다음과 같다.
총 체류외국인은 1,395,077명으로 2010년 1,261,415명 대비 10.6% 증가, 방문취업, 고용허가 등 외국인근로자 증가로 등록외국인도 사상 처음으로 110만명 돌파
- 체류외국인 1,395,077명으로 2001년 566,835명 대비 2.5배 ↑
- 등록외국인 1,117,481명으로 2001년 244,384명 대비 4.6배↑
- 단기체류외국인 277,596명으로 2001년 322,451명 대비 다소 감소

국내 체류외국인을 체류목적별로 살펴보면, 방문취업자 등 외국인근로자가 599,422명(43.0%), 결혼이민자는 144,681명(10.4%), 한국어연수생을 포함한 외국인 유학생이 88,468명(6.3%)인 것으로 집계되었다.

국적별로는 중국이 48.6%인 677,954명(한국계 470,570명 포함)으로 가장 많았고, 미국 132,133명(9.5%), 베트남 116,219명(8.3%), 일본 58,169(4.2%), 필리핀, 태국 순이다.

□ 결혼이민자는 144,681명으로 2010년 141,654명 대비 2.1% 증가
국 적별로는 중국 64,173명(44.4%), 베트남 37,516명(25.9%), 일본 11,162명(7.7%), 필리핀 8,367명(5.8%), 캄보디아 4,583명(3.2%) 순이며, 여성이 12만5천명(86.4%), 남성이 2만명(13.6%)이었다.

□ 외국인 유학생은 88,468명으로 2010년 87,480명 대비 1.1% 증가
국 적별로는 중국 65,271명(73.8%), 몽골 4,958명(5.6%), 베트남 3,100명(3.5%), 일본 2,083명(2.4%)순으로 아시아계가 대부분을 차지하였고, 성별로는 여학생이 45,464명(51.4%)으로 남학생보다 많았다.

 

□ 방문취업자는 303,368명으로 2010년 286,586명 대비 5.9% 증가
국적별로는 중국이 293,132명으로 전체의 96.6%를 차지하고 있으며 우즈베키스탄(7,610명), 러시아(1,932명), 카자흐스탄(465명) 순이다.
방문취업자가 증가한 이유는 전년도에 동결된 방문취업자 숫자를 30만 3천명 수준으로 확대하였기 때문으로 분석된다.
□ 불법체류외국인은 167,780명으로 2010년 168,515명 대비 0.4% 감소
총 체류외국인의 12.0%를 차지하고 있으며, 국적별로는 중국 67,034명으로 40.0%, 베트남 18,876명(11.3%), 태국 14,095명(8.4%), 필리핀 11,863명(8.4%), 몽골 9,668명(5.8%), 인도네시아, 우즈베키스탄, 방글라데시 순이다.

Source: http://www.dmcnews.kr/xe/5189

————————————————-

Tạm dịch vài con số thống kê về người Việt ở Hàn Quốc  năm 2011 (con số % là so với tổng số người ngoại quốc ở Hàn Quốc):

Tổng số: 116,219 người (8.3%)

Lao động:

Kết hôn (lấy chồng Hàn quốc): 37,516 người (25.9%)

Du học sinh: 3,100 người (3.5%)

Cư trú bất hợp pháp: 18,876 người (11.3%)

Vietnamese Influenced by Korean Culture and Media

March 11, 2012 Leave a comment

Introduction to Hallyu

The “Korean Wave,” or called ‘Hallyu’, from the Korean pronunciation, is the phenomenon boom of South Korean pop culture throughout Asia in the popularity of Korean dramas, dance music, films, animation and games and fan clubs for Korean stars. There is a substantial demand for Korean entertainment in countries such as China, Japan, and the South-East Asian nations including Vietnam.

The Impact of Hallyu on Vietnamese and their culture

TV dramas, film

Korean dramas started with a number of dramas, including “Autumn Fairly Tale,” “Winter Sonata” and “Daejanggeum” (“Jewel in the Palace”) are very popular in Vietnamese media. Young people in Vietnam are fascinated by the modern lifestyles of Korea. Korean culture and products have had dramatic and significant impact on Vietnamese youth as the dramas and other media portrayed Korea living a high standard of living as a dynamic and developed country. Therefore, Vietnamese realized that Korea was much more modern than they had thought. Moreover, the young age groups of consumers were adapting Korean lifestyles all the way from fashion, food and consumption patterns to plastic surgeries. This is no longer just enjoying Korean television dramas.

Broadening their networks in Kore

Many Vietnamese who are adoring fans of Korean television shows and movies has transformed South Korea’s image in their region, presenting Korea as having successfully balanced tradition and modernity. Korea was a place that produces popular Samsung cell phones and cherishes family ties. An account director of JWT commented that “young people are currently very influenced by the South Korean culture and start to adapt it by learning Korean languages, studying in Korea, and imitating Korean fashion, etc.”

 


Korea-Vietnam families Day,(11.04)

There was significant increase on Vietnamese living in Korea since ‘Hallyu’ effect.

  • The number of Vietnamese living in Korea 20,800 in 2002
  • The number of Vietnamese living in Korea 68,900 in 2007
  • Statistics In November 2006,
    • There were 29,000 Vietnamese employed in Korea’s manufacturing sector,
    • There were 21,000 Vietnamese spouses in Korea,
    • 3,300 industrial trainees and
    • 2,700 students and apprentices.

Hallyu’s contribution to Korean businesses

Korea’s Investment in Vietna

  • In 2005, Korea was the country’s fourth largest investor with $500 million, following Singapore, Taiwan and Japan.
  • In 2006, Korea had become the No. 1 investor in Vietnam by earning over $2.6 billion in orders.
  • Since 2000, LG and SK have brought electronics and telecommunications. Soon after many Korean companies like Doosan, Kumho Asiana, LG, SK and Posco entered to Vietnam.
  • In 2007, Samsung Electronics, Lotte Group, and Hyundai Shipbuilding entered the country.

Korean Brand

Korean brand consumer products likeLG,Samsung, and Hyundai have benefited from the Korean wave. Nowadays, it is easy to spot trendy people sporting hairstyles, clothes, and makeup inspired by Korean fashion in many Asian countries. Korean food has also received new attention, as people want to sample cuisine they saw on the television shows. And Korean festivals all over the world saw attendances rise as Korean culture grew in popularity in the past years. According to the Samsung Economic Research Institute (2005) “The Korean Wave Sweeps the Globe,” the report classifies Vietnam in the third stage. They specified Korean pop culture into four stages, in relation to their pattern of consuming Korean cultural products.

  • The 1st stage – simply enjoying Korean pop culture (Egypt, Mexico and Russia).
  • The 2nd stage – buying related products such as posters, character items, and tours (Japan, Taiwan, and Hong Kong)
  • The 3rd stage – buying “Made in Korea” products (China and Vietnam)
  • The 4th stage – the development of a general preference for Korean culture itself. (there is no countries belongs to this category yet)

Establishment of diplomatic relations between Korea and Vietnam

The prime minister, Nguyen Tan Dung, commented “Nowadays, many cultural products such as fashion, music and films, either coming from Korea or carrying Korean style are so popular among young people in many other places. Moreover he said “At the same time, I am very much interested in learning more about new policies such as President Lee Myung-bak’s New Asia Initiative and issues related to the Korean Peninsula with a view to contributing to peace, stability and cooperation in Northeast Asia and the Asia-Pacific region.”

References Edit

  1. Huong, D. (2009). Hallyu and its effect on young Vietnamese, http://www.viet-studies.info/hallyu_and_its_effect_VN.htm
  2. Yoon, S. (2007, November 13). Korean-vietnamese ties expanding, http://www.korea.net/news/news/newsView.asp?serial_no=20071112026
  3. Heymer, F. (2008). Successful promotion of consumer goods in vietnam. (pp. 128) GRIN Verlag.
  4. Cho Hae-Joang, Reading the “Korean Wave as a Sign of Global Shift”, pg 169, Korea Journal, 2005
  5. Kang , H. (2009, May 31). Pm wants to see vietnamese culture boom here, http://www.koreatimes.co.kr/www/news/special/2009/10/275_45988.html

Source: International Business Wikia

Làn sóng Hallyu trên thị trường giải trí Việt

March 5, 2012 Leave a comment

Từ nhiều năm nay, giới trẻ Việt không còn xa lạ với cụm từ Hallyu (văn hóa Hàn, đặc biệt là âm nhạc và điện ảnh). Sự lan tỏa và ảnh hưởng của làn sóng này ở Việt Nam đang khiến cho thị trường giải trí Việt trở nên yếu thế.

Tôi thật sự là một fan Kpop (nhạc Hàn Quốc) thứ thiệt, nhưng rõ ràng ảnh hưởng của nó lên văn hóa Việt Nam là điều đáng suy nghĩ. Tôi hiện mới 18 tuổi, dù không thực sự quá hiểu biết về lĩnh vực này nhưng sẽ đưa ra một số suy nghĩ cá nhân vì tôi thích Kpop nhưng luôn ủng hộ sự phát triển của làng giải trí Việt.

Từ khi âm nhạc Âu Mỹ và Kpop đến Việt Nam, quan niệm thẩm mỹ âm nhạc hay thuần phong mỹ tục đã thay đổi theo hướng cởi mở hơn, gần với văn hóa nước ngoài hơn.

Không khó để tìm được các Music Video (MV) sexy vô đối, vũ đạo gợi cảm của các nghệ sĩ nữ Hàn và US-UK (thậm chí chính các chương trình âm nhạc phát sóng trên TV cũng đầy các cảnh như vậy, một số còn bị lên án ngay tại Hàn Quốc, vậy mà lượt yêu cầu lên sóng truyền hình Việt cũng cao ngất ngưởng).

Người Việt giờ không chỉ nghe nhạc mà còn xem nhạc, xem ca sĩ đó ăn mặc ra sao, mặt mũi xinh thế nào, có sexy không, bây giờ thật khó tưởng tượng ra việc một nghệ sĩ có nhan sắc dưới trung bình, dù nam hay nữ làm được điều gì lớn lao cho khán giả Việt.

Điều này cũng do chính các sản phẩm âm nhạc ngoại nhập. Khó có thể trách người Việt trẻ bỏ qua thuần phong mỹ tục và quan điểm thế nào là thuần phong mỹ tục có lẽ nên thay đổi.

Chương trình lên án thảm họa âm nhạc Việt trên VTV hiện đã có số like trên youtube 1870 lượt. Quả thật sau khi xem xong chương trình đó tôi đã có cái nhìn không mấy thiện cảm (nếu không nói là coi thường) nền showbiz Việt. Từ đó tôi đã gần như từ bỏ việc tìm hiểu về âm nhạc Việt mà chuyển hẳn sang tìm hiểu về âm nhạc Hàn.

Điều đầu tiên lên án là lời bài hát vô nghĩa, thiếu thẩm mỹ nhưng có thể thấy rõ ràng phần lớn người Việt khi nghe nhạc ngoại cũng chẳng cần biết mình đang nghe cái gì, có phù hợp với lứa tuổi không, ngay cả thế hệ 10x cũng đang học đòi nghe nhạc ngoại (đặc biệt là nhạc Hàn) .

Nếu theo như bản dịch của các hội làm sub cho nhạc Hàn thì thực tế phần lớn ý nghĩa của nó không hơn gì nhạc thị trường Việt. Có người bạn tôi biện minh rằng vì tiếng Việt và tiếng Hàn có khoảng cách nên nhạc Hàn không còn ý nghĩa. Vậy là bạn đó cũng chẳng buồn hiểu hết ý nghĩa về các bài hát Kpop.

Để ý kỹ thì nó cũng hơn gì việc đọc đi đọc lại một vài câu, nếu không nhờ âm thanh điện tử thì bài hát có lẽ không quá hay. Nếu lên án các nghệ sĩ Việt hát nhép thì rõ ràng âm nhạc Hàn cũng cho phép hát nhép.

Kpop có nhiều điểm tương đồng âm nhạc hiện đại US-UK nhưng dễ nghe hơn, trẻ trung hơn và cũng không cần có khả năng cảm thụ nghệ thuật quá cao xa.

Về phần các nghệ sĩ Việt, đó là sự chậm tiến bộ so với xu thế phát triển chung của giải trí thế giới. Sự yếu kém của giải trí Việt thể hiện qua hiện tượng đạo nhạc, mượn nhạc ngoại làm lời Việt, copy vũ đạo, phong cách một cách quá tràn lan, trong điện ảnh thì là sự lạm dụng các kịch bản phim nước ngoài quá nhiều, diễn viên còn thiếu chuyên nghiệp, bị hạn chế khả năng.
Fan Kpop trên diễn đàn anti Vpop.

Khi làn sóng Hàn đã lan tràn quá nhanh, nhiều nghệ sĩ Việt bị mất một lượng fan đông đảo, trở nên “tự kỉ” và bất lực. Họ chỉ còn biết cách gây scandal, lộ hàng, chơi sang … để có chuyện lên giới truyền thông, mong vớt vát lại chút gì của một thời đã qua.

Thị hiếu âm nhạc của Việt Nam không tầm thường mà là có sự khác nhau rõ rệt giữa các vùng miền, các dân tộc, các ngành nghề và độ tuổi…Ví dụ như chất mạnh mẽ của âm nhạc Tây Nguyên khó có thể chinh phục khán giả trẻ Hà Nội thích sự lãng mạn hay M4U có thể nổi tiếng ở Hà Nội thì cũng khó lòng chinh phục khán giả miền Nam.

Cũng như LCH, HKT, CVC khó có thể nổi tiếng ở các địa phương khác, hay các nghệ sĩ nữ quá sexy cũng không thể lấy lòng các bậc phụ huynh và giới chuyên môn…..

Xin nói thêm về HKT, việc họ lạm dụng các ca khúc nước ngoài chính (đặc biệt của các nhóm nhạc Hàn) là lý do chính họ bị coi là thảm họa âm nhạc và khó có thể xóa bỏ được quá khứ không tốt trong lòng khán giả nhưng vẫn có một lượng fan đông đảo ở nông thôn và miền Tây vốn quá thiếu các sản phẩm âm nhạc lạ.

Có lẽ cụm từ thảm họa âm nhạc hay thảm họa điện ảnh đã bị giới chuyên môn và cộng đồng mạng lạm dụng quá nhiều tạo nên hình ảnh một nền giải trí Việt Nam yếu kém, một loạt các ca sĩ mới nổi như ĐN, NPT,… cũng bị anti fan coi là thảm họa.

Các nghệ sĩ của nhiều lĩnh vực khác như điện ảnh, người mẫu, hay cả vận động viên thể hình đang làm rất tốt công việc của mình cũng muốn tham gia vào giới âm nhạc làm nó thêm rối loạn.

Cần hơn một sự đoàn kết giữa những người làm nhạc, những người làm phim, hơn là việc lên án nhau công kích nhau tràn lan. Mỗi nghệ sĩ cần phải có trách nhiệm hơn với các sản phẩm nghệ thuật của mình và nhận trách nhiệm về sự yếu kém của chính mình mới có cơ hội giành lại thị trường.

Giới truyền thông cũng có lỗi lớn trong sự thất bại này, từ truyền hình, báo chí, internet…Nếu như công nghệ lăng xê, phát triển tài năng của giới truyền thông ngoại rất tốt, cả Kpop và Âu mỹ đều thế thì truyền thông Việt dường như chỉ biết khai thác các chủ đề kiểu như các scandal, chuyện quần áo, ăn mặc, lộ hàng …hơn là phân tích cái hay, cái độc đáo của điện ảnh và âm nhạc.

Rõ ràng khán giả rất có hứng thú tìm hiểu về đời sống, con người, chuyện riêng của người nổi tiếng – những khuôn mẫu của xã hội, niềm mơ ước của giới trẻ và các bài báo như thế ở nước ngoài cũng không ít nhưng dường như nó xuất hiện ở Việt Nam một cách quá nhiều làm khán giả dần bội thực (có lẽ lỗi cũng do các nghệ sĩ lạm dụng việc này để nổi tiếng).

Nhưng có lẽ lỗi chính là do khán giả những người yêu giải trí đã không dành nhiều sự quan tâm cho hàng nội và chính bản thân chúng tôi nên thừa nhận điều đó. Hiện tượng sính ngoại trong văn hóa dường như đã ăn sâu vào cuộc sống và nếp sinh hoạt người Việt. Nếu như hồi trước âm nhạc và phim ảnh ngoại chỉ như là một món xa xỉ thì bây giờ nó đã trở thành cơm nhà của nhiều fan Hallyu.

Nhiều người biện minh rằng dù thích xem phim Hàn, nghe nhạc Hàn không đồng nghĩa với việc làm mất đi văn hóa truyền thống dân tộc. Nhưng có lẽ họ chưa phải là fan Hallyu đích thực.

Họ không biết đến việc nhiều cô gái trẻ Việt hạnh phúc với trang phục cưới Hanbok chứ không phải là áo dài, váy Tây, việc lạm dụng phẫu thuật thẩm mỹ, dùng mỹ phẩm hay như sự xuất hiện tràn lan của những cái gọi là vẻ đẹp Hàn Quốc, phong cách Hàn Quốc trong các hotboy, hotgirl tuổi teen người Việt (nếu như lên các trang mạng của giới trẻ thì không thiếu các bài tít như vậy).

Ảnh hưởng văn hóa là rõ ràng khi mà chúng ta có thể dễ dàng gặp một cô gái kiểu Hàn Quốc đi trên đường hay nhìn thấy phong cách của người dân Hàn trong lối sống, các ăn uống và đặc biệt là trong việc lựa chọn ngôn ngữ (đang có rất nhiều người học tiếng Hàn vì thần tượng), hay không biết mình đang xem một kênh truyền hình của nước nào (như người Nhật nói).

Một điều lạ mà ít người để ý tại sao một quốc gia lắm tiền nhiều của như Nhật Bản lại không tạo ra một thứ kiểu như làn sóng Nhật nhưng lại vẫn là một thị trường giải trí hàng đầu thế giới.

Theo tôi có thể là vì Nhật Bản coi trọng văn hóa dân tộc nên các ban nhạc ngoại khó lòng xâm nhập hay lấy lòng khán giả trong nước; các sản phẩm văn hóa-giải trí của họ như truyện tranh manga, hoạt hình, phim, âm nhạc của họ vẫn được yêu thích trên thế giới vì sự độc đáo và chất lượng của chúng, thậm chí họ còn nổi tiếng thế giới về tinh thần và tính cách mạng thương hiệu Nhật Bản.

Họ chẳng cần phải truyền bá cho ai cả, họ cứ làm tốt thì tự dưng cả thế giới sẽ biết về họ. Không phải tôi nói vậy thì chúng ta cần phải làm theo. Nhưng rõ ràng nếu muốn truyền bá văn hóa và giải trí Việt ra thế giới theo kiểu Hallyu thì trước tiên nó phải thật sự có chất lượng và phục vụ được đa số khán giả trong nước.

Có người cho rằng làn sóng Hàn đã bớt nóng, càng ngày càng loãng do đầu tư không hiệu quả, không còn chất lượng như trước và giới trẻ bắt đầu chán Hallyu. Có người lại cho rằng làn sáng Hàn sẽ phủ sóng toàn thế giới và ăn sâu vào văn hóa Việt từ thành thị đến nông thôn và rất khó giảm sức ảnh hưởng. Fan Kpop thực tế hâm mộ con người thần tượng của mình hơn là dòng nhạc của thần tượng nên dù bài hát đó có hơi quá chán thì vẫn ủng hộ. Quá khứ đã cho thấy cứ sao 1 thời gian suy thoái thì làn sóng Hàn lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn trước.

Nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam cũng đang tìm cách làm nên điều kì diệu như Hàn Quốc. Nhưng rõ ràng là cần thiết phải có sự nghiên cứu cẩn thận xem chúng ta đã được gì và mất gì từ làn sóng Hàn, tương lai của nó sẽ đi đến đâu, giới trẻ nên đi theo con đường nào, có nên tiếp tục truyền bá hay giảm độ ảnh hưởng của nó.

Theo thống kê của Hàn Quốc, con số nhóm nhạc tại đây sẽ vượt 100. Sức mạnh của công nghiệp giải trí đã đóng góp đáng kể vào sự đi lên của kinh tế Hàn Quốc, ảnh hưởng tới nhiều mặt kinh tế, xã hội.

Theo khảo sát việc làm thì gần một nửa giới trẻ Hàn muốn thành người của làng giải trí, có thể dễ dàng thấy được quy mô và số lượng tham gia rất lớn của các chương trình tài năng của các công ty giải trí Hàn.

Nguồn: Vnexpress

Are Koreans Afraid of Foreigners?

February 28, 2012 Leave a comment

EBS Korea: 2 Foreigners in Korea

December 21, 2011 Leave a comment

Truyền thông Hàn Quốc:”Hàn lưu không bao giờ chết ở Việt Nam”!?

December 9, 2011 Leave a comment

Tờ Le Monde (Pháp) trong bài phản ảnh sự thâm nhập của văn hoá Hàn quốc (Hàn lưu) vào châu Âu thông qua nhạc Hàn (K – pop) đã kết luận, đối với nhà lãnh đạo các quốc gia, nhạc Hàn (K – pop) là ví dụ tốt nhất cho thấy một đất nước bị ép giữa các láng giềng chọn cách phát triển kinh tế nhờ vào xuất khẩu xe hơi, hàng điện tử… nay thêm xuất khẩu văn hoá. Theo truyền thông, mục tiêu “chăm nom giới trẻ toàn cầu” đang càng ngày càng được hiện thực hóa, đặc biệt ở Việt Nam.

Các “gánh hát” Hàn đang thu phục châu Âu (1)

Đây là nhan đề bài viết trên tờ Le Monde. Bài báo cho hay đây là một nỗ lực chung của chính phủ Hàn quốc và các tập đoàn thương mại trong chiến lược “tiếp thị văn hoá. Rằng lợi nhuận nhờ tiếp thị văn hoá (nhưng không gắn với văn hoá truyền thống dân tộc mà bám vào trào lưu Mỹ hoá) của Seul đang vượt lên các hoạt động xâm nhập văn hoá của các đối thủ như Nhật và Trung Quốc…

Sau khi thu phục châu Á, K – pop bây giờ đang đánh chiếm thị trường châu Âu. Hai ngày 10, 11 tháng Bảy 2011, 14 ngàn fan châu Âu của nhạc pop Hàn được dịp quay cuồng tại Nhà hát Zenith, Paris, theo các điệu nhạc của các nhóm SHINee, f(x), hay Girls’ Generations. Đây là các ban nhạc được các hãng sản xuất hàng hóa của Hàn quốc thiết kế và dàn dựng, nhằm biến nhạc thành hàng xuất khẩu, với sự hiệp trợ tích cực của chính quyền Hàn quốc. Ban lãnh đạo ở Seul đang coi nhạc pop Hàn là một phương thức để quảng bá một hình ảnh tích cực và năng động của quốc gia nằm ở Nam bán đảo Triều tiên.
bannhac
Những ban nhạc nhang nhác nhau đang “thu phục” giới trẻ các nước.
Cuộc trình diễn nhạc Hàn tại này tại Paris được Cty tiêu khiển SM Entertainment ấp ủ đã lâu. SM Entertainment được Lee Sooman, một danh ca của những năm 70 chuyển nghề làm thương gia lập ra năm 1995. Đến nay, SM Entertainment đã sản xuất được một lô xích xông những ngôi sao, như ca sĩ BoA, người đã chinh phục không chỉ Hàn quốc mà cả Nhật Bản, Trung Quốc và Đông Nam Á, và thậm chí còn tạo dựng được diện mạo ở Hoa Kỳ. Đi đầu trong lĩnh vực xuất khẩu pop Hàn, SM Entertainment nay cạnh tranh với các Cty tiêu khiển JYP Entertainment của Nhật bản, và với YG Entertainment, là “gà cùng một mẹ” Hàn quốc với SM Entertainment.
Hàn lưu (làn sóng chuộng âm nhạc Nam Triều tiên) lan tỏa tới châu Âu nhờ vào các giao diện Internet, đã giúp các fan, không cần sắm sản phẩm nghe nhìn dạng băng đĩa, khám phá được thứ nhạc này từ phía bên kia của thế giới (ý nói châu Á). Trào lưu này được kích hoạt do thông tin được chuyển tải qua tiếng Anh. Thường các fan đến với K – pop sau khi đã nhiễm bùa mê của văn hóa đại chúng Nhật Bản.

“Tôi vốn hay đọc mangas (truyện tranh thiếu nhi của Nhật”, Jessica, một thiếu nữ từ vùng Moselle giãi bày, “Sau đó tôi khám phá các phim nhiều tập của Hàn, rồi tới nhạc Hàn”. Những gì cô thích ở K – pop là “cách biểu diễn gây ấn tượng hơn, tác phong đậm chất Mỹ hơn, và ít sử dụng trang phục truyền thống dân tộc (Nhật, vốn xa lạ với châu Âu) hơn là (nhạc pop của) Nhật bản”. Sự say mê đã kéo dài tới tận 6 năm, thúc đẩy Jessica mạnh đến mức gần đây cô bắt đầu học tiếng Hàn.

“Giao lưu với Hàn quốc” là một hội vừa được lập ra ở Paris bởi những người hâm mộ văn hoá Hàn, đang chịu trách nhiệm về tổ chức các sự kiện văn hoá Hàn. Maxim Paquet, viên chủ tịch của Hội này, đồng thời là cộng tác viên của SM Entertainment, cũng đóng một vai trò quan trọng trong đợt biểu diễn nhạc Hàn tại Pháp tháng 6/2011, chia sẻ. “Cuối năm 2010, chúng tôi đã tung lên Facbook một lời kêu gọi tổ chức một cuộc biểu diễn K – pop tại Paris, Chỉ trong năm ngày, đã có tới 3000 ý kiến ủng hộ trên khắp châu Âu, thậm chí từ Mỹ. Sáng kiến này đã làm SM Entertainment vững tâm tổ chức sự kiện này tại nhà biểu diễn Zenith, Paris”. Các chỗ ngồi đã được bán hết ngay cho buổi biểu diễn đầu tiên, ban tổ chức lập tức bán vé buổi nữa.

Truyền thông Hàn: Việt Nam đã… “nghiện” Hàn Quốc

Việt Nam là một trong hai nước ở châu Á được truyền thông quốc tế cho là chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng “làn sóng Hàn” (Hàn lưu – hoạt động xuất khẩu văn hoá hiện đại của Hàn quốc).

Năm 2005, tờ Tạp chí Hàn quốc (Korea Journal) bài viết “Nhận thức Làn Sóng Hàn lưu đang vần vũ gây biến động toàn cầu” (Reading the “Korean Wave” as a Sign of Global Shift)(2). Tác giả bài viết Cho Hae-Joang nhận định rằng Việt Nam và một nước nữa ở châu Á, có chế độ chính trị tương tự, nhưng kinh tế phát triển mạnh hơn nhiều, là hai nơi mà Hàn lưu đã thâm nhập sâu vào sự lựa chọn và cách cư xử của từng công dân. Bà Cho dẫn nghiên cứu của Viện kinh tế Sam Sung về Hàn lưu, xếp Việt Nam và Trung quốc vào giai đoạn thứ ba về cấp độ “ngấm” tác động của Hàn lưu. Đây là giai đoạn các sản phẩm “Chế tạo tại Hàn quốc” (Made in Korea) đạt độ phổ cập ngày một tăng trên thị trường hàng hoá nhập khẩu nước đó. Nói theo ngôn ngữ kinh tế, đây là giai đoạn sức mua hàng Hàn quốc của người mua Việt Nam và Trung quốc tăng

hqGiống diễn viên Hàn Quốc là… đẹp. Ảnh minh họa từ Internet

Nghiên cứu của Viện kinh tế Sam Sung trên nhan đề “Sóng Hàn dâng khắp toàn cầu” (The Korean Wave Sweeps the Globe) chia các nước hiện đang nhập khẩu văn hoá pop của Hàn làm các nhóm ứng với các cấp độ phổ cập sản phẩm Hàn quốc, nói nôm na là cách thức, mức độ người dân nước đó tiêu thụ hàng Hàn. Giai đoạn một mới chỉ là thích (enjoy) văn hoá pop của Hàn (từ văn hoá pop – văn hoá dân gian hiện đại – trong trường hợp của Hàn quốc phải hiểu là văn hoá phẩm dạng vật thể và phi vật thể được lập trình, chế tác, rồi đem xuất khẩu, để mở đường cho hàng xuất khẩu đa ngành của Hàn). Các nước đang ở giai đoạn này là Ai Cập, Mexico, và Nga. Giai đoạn hai là đã gây được tác động mua sản phẩm có chứa các biểu tượng của văn hoá Hàn, các biểu tượng tính cách (character items) kiểu Hàn, và các tua du lịch đến Hàn. Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông ở giai đoạn này. Giai đoạn ba là mua hàng Made in Korea, Việt Nam là một trong hai nước được xem là đã thăng tiến đến giai đoạn này.

Tiêu chuẩn cho một nước – ứng viên được xem là đã đạt giai đoạn cuối là nước này phải phát triển theo hướng ưu tiên rộng rãi văn hoá Hàn. Ở thời điểm 2005, chưa có nước nào đạt tiêu chuẩn này, phúc trình “Sóng Hàn dâng khắp toàn cầu” tiết lộ. Vì thế, các tác giả của phúc trình thúc dục bước phát triển một chất lượng cao hơn của “nội dung” (content, ý nói nội dung xuất khẩu văn hoá pop, chữ này gặp được trong tên gọi Trung tâm văn hoá và nội dung Hàn quốc (Korea Culture and Content Agency), được Bộ văn hoá Hàn thiết lập năm 2002 để xúc tiến xuất khẩu văn hoá)(3). Muốn vậy, phúc trình chỉ bảo, cần phải chú trọng hơn khâu “các chiến lược marketing”, như “cùng phát triển nội dung” (co-development of content), ngoài hoạt động xuất khẩu tại chỗ, việc hợp tác với các đội quân thứ năm, như các câu lạc bộ người hâm mộ sao Hàn chẳng hạn, để đánh trúng sở thích của người tiêu dùng tại chỗ hẳn cũng phải được bao hàm.

Hai tác giả của đại học quốc gia Chunbok là Na Misu và Van Thuy Hien có công trình “Lý giải về ‘sóng Hàn’ ở Việt Nam” (Understanding the ’Korean Wave’ in Vietnam, công bố năm 2004)(4). Dẫn các sự kiện như các hãng mỹ phẩm Hàn như “Debon” sang xây dựng nhà máy ở Việt Nam để kiếm lời (profit) từ nhu cầu theo đuổi phong cách Hàn của người Việt, bản phúc trình này khẳng định: “trên các đường phố Hà Nội và các thành thị lớn, thật dễ dàng thấy các cô gái mặc quần áo, trang điểm và để tóc theo các kiểu mà các sao Hàn đã truyền bá. Có thể nói trận lũ Hàn lưu đã quét khắp Việt Nam, thay đổi nếp tiêu dùng của dân cư. Người Việt ưa thích (prefer) quần áo, mỹ phẩm, và điện thoại di động của Hàn quốc hơn (so với sản phẩm cùng loại của nước khác)”.

Cùng năm 2008, trên tờ The Korea Herald đăng bài “ Hàn lưu không bao giờ chết ở Việt Nam” (The Korean Wave never die in Vietnam”), nhấn mạnh sự hâm mộ mọi thứ của Hàn ở Việt Nam ngày một tăng lên. Nhắc lại câu, trên các đường phố Hà Nội và TP. HCM, “thật dễ dàng thấy các cô gái mặc quần áo, trang điểm và để tóc theo các kiểu mà các sao Hàn đã truyền bá” của báo Hàn năm 2004, bài báo này nhấn mạnh rằng, giới trẻ Việt hôm nay “sẵn lòng làm bất cứ điều gì để có thể cập nhật được với thời trang của các sao Hàn”(5) …

Triển vọng của Hàn lưu vẫn còn dài dài, vì các vì sao Hàn ngày càng làm mưa làm gió trong tâm tưởng không chỉ của thế hệ 9X. Phát biểu của lãnh đạo các hãng giải trí Hàn cho thấy họ đang thiết kế “khuôn đúc” ra cả các sao Hàn có sứ mạng đồng hành với fan 9X trong tương lai trung hạn, lẫn những sao có khả năng chăn dắt các 10X, 11X trước tuổi thập tam (preteen).

Chú thích:

1. http://macoree.forumactif.net/t982-l…gagne-l-europe

2. http://chohanlab.net/?document_srl=4014

3. http://www.nytimes.com/2005/06/28/wo…iht-korea.html

4. http://www.dbpia.co.kr/view/ar_view.asp?arid=1112252

5. http://www.avivawest.com/wp-content/…rea-herald.pdf

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
theo Bee

Thấy gì qua “Oscar điện ảnh Hàn Quốc” ?

September 21, 2011 Leave a comment

Được ví von như “Oscar của điện ảnh Hàn Quốc”, LHP Paeksang lần thứ 42 vừa bế mạc tại Seoul. LHP lần này được tổ chức rất long trọng như một nỗ lực của chính phủ nhằm xoa dịu bất bình trong giới nghệ sĩ điện ảnh Hàn Quốc đối với những động thái khá cứng rắn trong việc cắt giảm bảo hộ điện ảnh quốc nội vừa qua.

Thành lập từ năm 1965, Paeksang là giải thưởng tổng hợp duy nhất ở Hàn Quốc cho cả hai lĩnh vực điện ảnh và truyền hình. Năm nay, phim Vua và anh hề (The King and the Clown, đạo diễn Lee Joon-Ik) đoạt liền hai giải thưởng lớn: Phim truyện xuất sắc nhất và Nam diễn viên mới xuất sắc nhất (Lee Joon-Gi). Lee Byng-Heon trong phim Cuộc đời ngọt ngào (A bittersweet Life, đạo diễn Kim Ji-Woon) và Lee Young-Ae trong phim Ủng hộ quý bà (Sympathy for Lady Vengeance, đạo diễn Park Chan-Wook) lần lượt đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất và Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim truyện. Bộ phim truyền hình My Lovely Sam Soon (đạo diễn Kim Yeon-Cheol) cũng không kém cạnh khi gặt hái hai giải thưởng lớn: Phim truyền hình xuất sắc nhất và Kịch bản truyền hình xuất sắc nhất. Bộ phim Cuộc đời màu hồng (Life in Pink, đạo diễn Kim Jong-Chang) tuy để vuột mất giải thưởng cao quý nhất dành cho thể loại phim truyền hình, song bù lại là giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong thể loại phim truyền hình. Giải thưởng lớn của ngành điện ảnh và ngành truyền hình lần lượt được trao cho bộ phim mang thể loại sử thi và kinh dị Huyết lệ (Blood Rain, đạo diễn Kim Dae Seung) và phim truyền hình Đất (Land, đạo diễn Lee Jong-Han). Giải Đạo diễn phim truyện xuất sắc nhất và Đạo diễn phim truyền hình xuất sắc nhất được trao cho Lee Myung-Se với phim Đấu thủ (Duelist) và Kim Jong-Chang với phim Cuộc đời màu hồng.

Với chất sử thi vốn đang rất được ưa chuộng ở Hàn Quốc và cốt truyện được chuyển thể từ một vở ca kịch nổi tiếng trong nước, bộ phim Vua và anh hề kể về cuộc đời và khát vọng tự do của một nghệ sĩ hài trong cung cấm. Để tái hiện được cảnh hoàng cung Triều Tiên xưa, đoàn làm phim đã tiêu tốn 4.500 triệu won. Phục trang cho các nhân vật chính cũng rất cầu kỳ, tất cả đều được làm bằng giấy để đúng với đặc trưng của thời đại đó. Các diễn viên đã phải rất cẩn thận trong khi diễn để tránh làm rách áo và có một đội ngũ nhân viên chuyên cầm quạt phe phẩy cho họ đề phòng mồ hôi thấm ướt áo giấy. Bao công sức quả không uổng phí khi bộ phim để lại ấn tượng sâu sắc cho khán giả. Bộ phim Ủng hộ quý bà kể về 13 năm trong tù của một nữ phạm nhân trẻ mang tội danh giết trẻ. Đằng sau tội danh ghê gớm kia vẫn là một bức màn bí mật bởi nữ phạm nhân Kim Tử (Lee Yong-Ae đóng) lại là một phụ nữ rất nhân hậu và dịu dàng, thường xuyên giúp đỡ các bạn tù gặp khó khăn, thậm chí còn được bầu làm phạm nhân mẫu mực. Mọi sự lại thay đổi khi cô hết hạn tù. Trong khi Cuộc đời ngọt ngào xoay quanh những ân oán giang hồ của các băng xã hội đen, Huyết lệ lại tập trung quanh một vụ án rùng rợn tại một thôn nhỏ mang tên Đông Hoa Đảo cuối thế kỷ 19. Cuộc sống yên bình nơi đây bỗng bị phá tan bởi một loạt các sự kiện kỳ bí: chiếc thuyền cùng bao hàng hóa cống tiến vua đột nhiên bị đốt rụi, một loạt người bị ám sát với những cái chết bí ẩn và giống nhau… Được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên xuất bản năm 1906, với phong cách độc đáo, kỹ xảo đẹp, bộ phim gây ấn tượng rùng rợn cho người xem.

Nhìn chung, phim truyện nhựa Hàn Quốc năm qua khá phong phú về thể loại (tình yêu, kinh dị, găng-xtơ, sử thi, cổ trang…) với cả đề tài cổ và hiện đại trong đó đặc biệt khai thác mạnh các đề tài lịch sử dựa trên vốn văn học sẵn có. Việc chịu khó vận dụng kỹ xảo điện ảnh tiên tiến cùng sự chịu khó khai thác các góc máy quay đẹp, mới lạ đã khiến cho phim Hàn Quốc ngày càng phong phú về loại hình và giàu chất điện ảnh.
(Thanh Niên)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.